Nghiên cứu sản phẩm

Product Research Capability

VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT

Nghiên cứu sản phẩm giúp doanh nghiệp hiểu đủ các phương án trước khi quyết định mình sẽ tạo ra sản phẩm gì

Bess & Company hiểu sản phẩm theo nghĩa rộng: có thể là hàng hóa hữu hình, một dịch vụ hoặc một sản phẩm số. Ba hình thái khác nhau về cách khách hàng sử dụng và cách doanh nghiệp tạo ra chúng, nhưng cùng phải giải quyết một nhu cầu cụ thể và tạo ra một tập giá trị đủ để khách hàng lựa chọn. Vì vậy, nghiên cứu sản phẩm không được mặc định rằng sản phẩm luôn là một vật thể.

Chiến lược sản phẩm đã xác định khách hàng cần gì, sản phẩm cần nổi trội ở đâu, mức chất lượng và hướng giá nào cần theo đuổi. Nghiên cứu sản phẩm đi xuống lớp thông tin cụ thể hơn: thị trường đang có những cách giải quyết nào, sản phẩm hiện có ra sao, công nghệ và nguồn lực nào có thể dùng, phương án tạo ra sản phẩm có khả thi hay không và ràng buộc sở hữu trí tuệ nào cần biết trước khi concept được hình thành.

Mục tiêu không phải thu thập càng nhiều tài liệu càng tốt. Mỗi câu hỏi nghiên cứu phải phục vụ một quyết định sẽ xuất hiện ở concept, thiết kế, tạo mẫu hoặc kiểm nghiệm. Khi bằng chứng ở giai đoạn sau cho thấy một giả định ban đầu không đúng, đội ngũ quay lại nghiên cứu đúng phần phát sinh thay vì coi hồ sơ nghiên cứu đầu tiên là bất biến.

Sáu hướng nghiên cứu trước khi khóa concept sản phẩm

Giải pháp

Tìm các cách khác nhau khách hàng đang dùng để giải quyết cùng một nhu cầu.

Sản phẩm

So sánh cách thị trường đã chuyển nhu cầu thành tính năng, cấu trúc và trải nghiệm.

Công nghệ

Đánh giá phương tiện kỹ thuật có thể hiện thực hóa chức năng và mức chất lượng cần có.

Vật liệu

Xem các đầu vào cấu thành khi bản chất sản phẩm thực sự có lớp vật liệu tương ứng.

Sản xuất

Kiểm tra con đường tạo và nhân bản sản phẩm ở quy mô doanh nghiệp cần.

Sở hữu trí tuệ

Nhận biết quyền có thể xung đột và tài sản có khả năng cần bảo hộ.

HẠNG MỤC TƯ VẤN & TRIỂN KHAI

Các hướng nghiên cứu cần làm rõ trước khi xây concept sản phẩm

Sáu hướng nghiên cứu dưới đây không nhất thiết diễn ra theo một thứ tự cứng. Tùy loại sản phẩm, doanh nghiệp có thể ưu tiên khác nhau, nhưng cần đủ thông tin để hiểu cách khách hàng đang giải quyết vấn đề, mặt bằng sản phẩm hiện tại, công nghệ và đầu vào có thể dùng, khả năng nhân bản sản phẩm và những giới hạn quyền sở hữu cần tính tới.

Nghiên cứu các giải pháp

Chúng tôi bắt đầu từ vấn đề hoặc nhu cầu của khách hàng và liệt kê những cách khác nhau mà họ đang dùng để giải quyết. Một nhu cầu có thể được đáp ứng bằng hàng hóa, bằng một dịch vụ, bằng phần mềm hoặc bằng sự kết hợp của nhiều hình thái; vì vậy phạm vi nghiên cứu rộng hơn việc chỉ tìm các sản phẩm giống ý tưởng doanh nghiệp đang có.

Kết quả cần chỉ ra mỗi giải pháp đang giải quyết phần nào của nhu cầu, điểm bất tiện hoặc giới hạn nằm ở đâu và khách hàng phải đánh đổi điều gì khi sử dụng. Bản đồ giải pháp này giúp đội ngũ biết mình đang cạnh tranh với cách giải quyết nào và tránh khóa concept quá sớm vào một hình thức sản phẩm chỉ vì đó là thứ doanh nghiệp quen làm.

Nghiên cứu các sản phẩm

Các sản phẩm cụ thể trên thị trường được phân tích để hiểu cách người khác đã chuyển nhu cầu thành tính năng, cấu trúc, trải nghiệm, mức chất lượng và cách cung cấp. Với hàng hóa, chúng tôi nhìn vào cấu tạo và sử dụng; với dịch vụ, nhìn vào hành trình và các điểm phục vụ; với sản phẩm số, nhìn vào chức năng, luồng sử dụng và mô hình cung cấp.

Mục tiêu không phải sao chép sản phẩm đang bán tốt mà tạo một mặt bằng so sánh đủ rõ: chuẩn thị trường hiện ở đâu, điểm nào đã được giải quyết tốt, điểm nào còn thiếu và những lựa chọn nào dường như tạo ra giá trị nhưng đi kèm chi phí hoặc độ phức tạp lớn. Những dữ liệu này trở thành căn cứ cho concept và tiêu chí kiểm nghiệm sau này.

Nghiên cứu công nghệ

Công nghệ được xem như phương tiện để hiện thực hóa chức năng và mức chất lượng sản phẩm. Với hàng hóa, đó có thể là công nghệ vật liệu, gia công, cảm biến hoặc cơ điện; với dịch vụ, là thiết bị chuyên môn, phần mềm, tự động hóa hoặc phương pháp cung cấp; với sản phẩm số, công nghệ nằm trực tiếp trong kiến trúc, nền tảng, dữ liệu và cách hệ thống xử lý.

Chúng tôi xem mức độ sẵn sàng, khả năng tiếp cận, yêu cầu nhân lực, phụ thuộc vào đối tác và giới hạn khi mở rộng quy mô. Một công nghệ hấp dẫn nhưng chưa đủ ổn định, quá khó vận hành hoặc không thể tiếp cận ở quy mô doanh nghiệp dự kiến phải được ghi nhận như một rủi ro cần thử nghiệm thêm trước khi concept dựa vào nó.

Nghiên cứu vật liệu

Với sản phẩm hữu hình, vật liệu ảnh hưởng trực tiếp tới cấu tạo, độ bền, cảm nhận sử dụng, khả năng gia công và giá thành. Chúng tôi so sánh các lựa chọn theo yêu cầu thực tế của sản phẩm, đồng thời xem nguồn cung, khả năng thay thế, mức ổn định và sự tương thích với công nghệ sản xuất.

Ở dịch vụ, hạng mục này mở sang các vật tư, nguyên liệu và đầu vào vật chất trực tiếp tạo trải nghiệm hoặc kết quả; với sản phẩm số, mức liên quan thường thấp hơn và chỉ áp dụng khi dữ liệu, nội dung, media, bản quyền hoặc tài sản số đóng vai trò tương tự một đầu vào cấu thành sản phẩm. Không cần cố tạo một lớp vật liệu nếu bản chất sản phẩm không có.

Nghiên cứu sản xuất

Một concept chỉ có giá trị khi doanh nghiệp có con đường thực tế để tạo và nhân bản nó. Với hàng hóa, chúng tôi nghiên cứu phương thức sản xuất, năng lực nhà cung cấp, thiết bị, công đoạn khó và giới hạn khi tăng sản lượng. Với dịch vụ, câu hỏi chuyển thành mô hình điểm cung cấp, công suất phục vụ, mức phụ thuộc vào con người và khả năng giữ chất lượng giữa nhiều lượt hoặc nhiều cơ sở.

Với sản phẩm số, nghiên cứu sản xuất tương ứng với cách xây dựng, triển khai và cung cấp phiên bản ở quy mô lớn hơn, gồm hạ tầng, luồng phát hành, khả năng xử lý và phụ thuộc kỹ thuật. Kết quả của hạng mục này giúp concept không đi vào một phương án chỉ làm được một bản mẫu nhưng không thể nhân rộng theo quy mô doanh nghiệp cần.

Nghiên cứu sở hữu trí tuệ

Trước khi đầu tư sâu vào tên gọi, cấu tạo, thiết kế, nội dung, công nghệ hoặc cách thể hiện mới, chúng tôi rà soát những quyền sở hữu trí tuệ có liên quan để nhận biết khu vực cần thận trọng. Mục tiêu là giảm nguy cơ doanh nghiệp phát triển một giải pháp rồi mới phát hiện xung đột với quyền đã có.

Đồng thời, những yếu tố có khả năng tạo tài sản sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp cũng được ghi nhận để xem xét bảo hộ ở bước phù hợp. Với sản phẩm số, quyền đối với mã nguồn, nội dung, dữ liệu hoặc tài sản số có thể đặc biệt quan trọng; với dịch vụ, phạm vi phụ thuộc vào những tài sản cụ thể được tạo ra. Đánh giá pháp lý chuyên sâu được chuyển cho người có chuyên môn khi cần.

Nghiên cứu sản phẩm phải nhìn cả thị trường, khả năng tạo ra và quyền sở hữu

THỊ TRƯỜNG

Giải pháp · Sản phẩm: khách hàng đang giải quyết nhu cầu bằng cách nào và chuẩn hiện tại ở đâu.

KHẢ NĂNG TẠO RA

Công nghệ · Vật liệu · Sản xuất: phương án có thể được hiện thực hóa và nhân rộng hay không.

SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Quyền đã có và những tài sản mới cần được nhận diện trước khi đầu tư sâu.

Từ dữ liệu nghiên cứu đến một concept có căn cứ

Nghiên cứu sản phẩm kết thúc ở mức đủ để đội ngũ biết những lựa chọn nào đang mở ra, điều kiện để từng lựa chọn khả thi và phần nào vẫn chỉ là giả định. Hồ sơ nghiên cứu vì vậy cần phân biệt dữ liệu đã có bằng chứng với câu hỏi còn phải kiểm tra, thay vì cố tạo cảm giác mọi bất định đã được loại bỏ.

Từ nền tảng này, xây dựng concept chuyển các lựa chọn thành một mô tả sản phẩm cụ thể. Nếu concept không giải thích được vì sao loại sản phẩm, tính năng, cấu tạo, nguyên lý, mức chất lượng và cách tạo ra lại phù hợp với kết quả nghiên cứu, đội ngũ cần quay lại kiểm tra giả định trước khi đi tiếp.

Giá trị của nghiên cứu sản phẩm nằm ở việc phát hiện sớm những giới hạn có thể làm concept sai ngay từ gốc. Càng nhìn rõ giải pháp, công nghệ, đầu vào, khả năng nhân bản và quyền sở hữu trước khi thiết kế sâu, doanh nghiệp càng giảm được chi phí sửa đổi khi sản phẩm đã đi xa hơn.

Thảo luận về năng lực
Nghiên cứu sản phẩm

Chia sẻ bài toán và nhu cầu của doanh nghiệp để cùng xác định hướng đồng hành phù hợp. Hướng tới kết quả thiết thực, bền vững.

Đăng ký tư vấn

NĂNG LỰC LIÊN QUAN

Các năng lực khác trong Nghiên cứu phát triển sản phẩm